Tỷ lệ người lưu trú dài hạn từ 5 năm trở lên chiếm hơn một nửa tổng số người nước ngoài… Cần thay đổi chính sách hỗ trợ người lưu trú dài hạn thay vì người lưu trú ngắn hạn
Đã tạod 2025-12-15 Số lượt truy cập 18
Nội dung
○ Tỉnh Gyeonggi-do công bố kết quả khảo sát về thực trạng hội nhập xã hội của người nhập cư năm 2025
○ Khảo sát 712 người nhập cư trên địa bàn tỉnh từ tháng 6 – tháng 8. Phân tích tất cả mọi lĩnh vực, bao gồm hoạt động kinh tế, tham gia xã hội, phân biệt đối xử, sức khỏe, v.v.
– Tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế là 64,7%, trong đó tỷ lệ nữ giới thấp và tỷ lệ lao động tạm thời cao
○ Tỉnh Gyeonggi-do xúc tiến thay đổi chính sách để phù hợp với cộng đồng người nhập cư định cư lâu dài… Xây dựng mô hình mang tính địa phương toàn diện
Trong bối cảnh tỷ lệ người nước ngoài lưu trú dài hạn và kiều bào có quốc tịch nước ngoài trên địa bàn tỉnh Gyeonggi-do ngày càng tăng, kết quả của một cuộc khảo sát cho thấy cần có sự thay đổi về chính sách theo hướng hỗ trợ lưu trú dài hạn, thay vì các chính sách hiện tại chỉ đang tập trung vào lưu trú ngắn hạn.
Vào ngày 15, tỉnh Gyeonggi-do đã tổ chức một buổi hội thảo dành cho các cán bộ phụ trách hỗ trợ người nhập cư của 31 quận và thành phố tại thành phố Siheung, đồng thời công bố kết quả của “Khảo sát thực trạng hội nhập xã hội của người nhập cư tỉnh Gyeonggi-do năm 2025”, với các nội dung sau.
Theo số liệu thống kê năm 2023 của Bộ Hành chính & An ninh, có khoảng 810.000 người nước ngoài sinh sống tại tỉnh Gyeonggi-do. Con số này chiếm khoảng 33% tổng số trên cả nước. Để ứng phó với nhu cầu nhập cư ngày càng tăng nhanh, từ tháng 6 đến tháng 8, Tỉnh đã tiến hành khảo sát thực trạng của 712 người nhập cư trên địa bàn tỉnh để tìm hiểu về hoạt động kinh tế, đời sống gia đình, mức độ tham gia xã hội và trải nghiệm về phân biệt đối xử, v.v..
Theo khảo sát, trong số các loại visa lưu trú thì tỷ lệ người lao động nước ngoài là cao nhất chiếm 22,3%, tiếp theo là kiều bào có quốc tịch nước ngoài (22,2%), người kết hôn nhập cư (21,3%), diện lưu trú khác (14,3%), người có quốc tịch Hàn Quốc (13,5%) và du học sinh (6,3%). Về thời gian lưu trú ở Hàn Quốc, tỷ lệ người lưu trú dài hạn từ 5 năm trở lên chiếm hơn phân nửa với 56,6%, trong đó từ 10 năm trở lên chiếm 29,8% và từ 5 đến 10 năm chiếm 26,8%.
Tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế chiếm 64,7% trong tổng số người tham gia khảo sát, trong đó nam chiếm 85,2% và nữ chiếm 52,2%. Tỷ lệ lao động thường trực trong tổng số người nhập cư là 53,5%, nhưng tỷ lệ lao động tạm thời và lao động công nhật của kiều bào có quốc tịch nước ngoài và người nước ngoài thuộc diện lưu trú khác lần lượt là 60,3% và 61,8%, điều này cho thấy họ phải làm việc nhiều giờ và công việc không ổn định.
Hầu hết người có quốc tịch (97,0%), người kết hôn nhập cư (96,2%) và kiều bào có quốc tịch nước ngoài (93,0%) đều sống cùng vợ/chồng của họ, trong khi đó chỉ có 19,6% người lao động nước ngoài là đang sống cùng vợ/chồng. Đặc biệt, đối với người lao động nước ngoài đã có con, tỷ lệ đang sống cùng con không quá 11,2%. Điều này cho thấy cần có chính sách hỗ trợ họ để có thể sống cùng con cái.
Khó khăn chung trong hoạt động kinh tế và đời sống gia đình là ngôn ngữ. 41,2% người tham gia khảo sát cho biết việc thiếu kỹ năng tiếng Hàn là khó khăn lớn nhất trong việc tìm kiếm việc làm, và 35,5% con cái của người nhập cư đã trả lời rằng có gặp khó khăn trong việc sử dụng tiếng Hàn.
Về phần tham gia xã hội, 3 trong 4 người nhập cư không có quyền bầu cử, và chỉ có 16,1% trả lời rằng có quyền bầu cử và có tham gia bầu cử. Các lý do không tham gia bầu cử theo thứ tự như sau: Thiếu thời gian do công việc (38,7%), Không biết bản thân có quyền bầu cử hay không (26,3%), và Không quan tâm (22,7%). Tỷ lệ tham gia bầu cử của người có quốc tịch rất cao, lên đến 92,2%.
Tỷ lệ đã từng bị phân biệt đối xử như bị xem thường, bị xúc phạm và gặp bất lợi trong công việc/tiền lương là 30,8%. Mức độ hài lòng về cuộc sống của những người nhập cư từng bị phân biệt đối xử là 6,5 điểm, thấp hơn so với 7,26 điểm của những người không bị phân biệt đối xử. Mức độ trầm cảm và căng thẳng lên đến 10,74 điểm, cao hơn so với người Hàn Quốc (9,83 điểm). Chỉ số này được tính dựa theo 11 câu (mỗi câu theo thang điểm từ 0 – 3 điểm), điểm càng nhiều thì mức độ trầm cảm càng cao. Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng dịch vụ chuyên môn như điều trị tâm lý, tư vấn tại trung tâm y tế của người nhập cư chỉ dưới 5%, cho thấy cần có hỗ trợ về chính sách trong mảng này.
Dựa trên kết quả khảo sát này, tỉnh Gyeonggi-do có kế hoạch sẽ xây dựng “Kế hoạch toàn diện về hội nhập xã hội dành cho người nhập cư tỉnh Gyeonggi-do”.
Ông Kim Seong-hwan, Trưởng phòng Xã hội Nhập cư Gyeonggi-do đã phát biểu: “Cuộc khảo sát này có ý nghĩa quan trọng vì đây là dữ liệu chính thức đầu tiên xem xét tường tận về thực trạng cộng đồng người nhập cư tại tỉnh Gyeonggi-do”. Ông nói thêm: “Trong bối cảnh xã hội đang nhanh chóng chuyển đổi thành xã hội định cư lâu dài, chúng tôi sẽ tập trung toàn lực vào chính sách để các chính sách thiết thực như xóa bỏ phân biệt đối xử, đảm bảo quyền tham gia hoạt động kinh tế & xã hội, quyền được chăm sóc sức khỏe có thể được bén rễ thật sâu”.













